bệnh FIP ở mèo
Mô tả
FIP (Feline Imfectious Peritonitis) là chứng viêm phúc mạc ở mèo và là căn bệnh rất nguy hiểm do virus gây ra. Virus tồn tại trong hai hình thái một là ở thể ướt và hai là ở thể khô, không có dịch ướt ở bụng. Tất cả 2 thể này đều có dấu hiệu như lờ đờ, sốt, tiêu chảy, nôn mửa và kém ăn. lây lan và sinh bệnh học : Sự phát tán virus (sự bày thải virus): Virus được bày thải qua phân sau khi nhiễm 2 ngày. Đa số mèo không còn thảy virus qua phân sau 2-3 tháng, mặc dù một số mèo bị nhiễm virus (13%) hình thành thể mãn tính. phát hiện các mèo nhiễm mãn tính bằng phương pháp RT-PCR mẫu phân sau 9 tháng. Stress do bị buộc di chuyển nơi ở làm gia tăng sự bày thải virus 101-106 lần.
Truyền lây: Mèo bị nhiễm FCoV qua đường ăn uống, thường là gián tiếp do tiếp xúc với chất độn chuồn có virus. FCoV có thể tồn tại 7wks trong môi trường khô. FCoV dễ dàng bị bất hoạt bởi các chất tẩy rửa gia dụng và chất khử trùng. FCoV có thể truyền từ mẹ sang con.
Xâm nhiễm đại thực bào và gây viêm mạch: Sử dụng hóa mô miễn dịch. Kipar và cộng sự, đã chứng minh FCoV bên trong các đại thực bào bám chặt vào thành mạch máu và gây tắt nghẽn mạch đó là vấn đề chính trong sự phát triển thành FIP.
Đáp ứng miễn dịch với FCoV: Ngoài độc lực của chủng đang lây nhiễm FCoV, bị suy giảm khả năng miễn dịch có thể làm cho mèo dễ bị nhiễm trùng toàn thân. Hầu hết các mèo FIP điều có lịch sử bị stress trước đó vài tháng. Stress gây ra 2 ảnh hưởng: tăng tính nhạy cảm của mèo với FIP; làm suy giảm hệ thống miễn dịch và tăng sự bày thải virus 101-106 lần
Triệu chứng :
Bệnh không có tiết dịch (noneffusive disease):FIP khô (không tiết dịch) là biểu hiện mãn tính của bệnh, xuất hiện vài tuần đến vài tháng sau nhiễm và bị stress gây ra. Dấu hiệu của FIP khô bao gồm sốt nhẹ, giảm cân, khù khờ, chán ăn (ăn ít). Mèo có thể bị vàng da. Hầu như tất cả mèo FIP khô bị viêm nội nhãn (mắt). Sờ nắn bụng thường thấy các nốt bạch huyết treo ruột sưng và cũng có thể thấy thận bất thường hoặc bất thường các nốt trong nội tạng khác. X-quang ngực có thể cho thấy mật độ không đều trong phổi (không đồng nhất).
Các triệu chứng mắt. Các đấu hiệu ở mắt phổ biến nhất trong FIP là viêm mống mắt, Thường tất cả hoặc 1 phần mống mắt trở thành màu nâu.
riệu chứng thần kinh. ở các mèo FIP khô, 25-33% có các bất thường về thần kinh. Dấu hiệu lâm sàng thường gặp nhất là thay đổi trạng thái thần kinh sau đó mất điều hòa (mất kiểm soát cơ) tiếp theo rung giật nhãn cầu và sau đó co giật.
Điều trị bệnh
Mèo khỏe có huyết thanh dương tính coronavirus: Các thuốc có thể chống lại FCoV trong điều kiện phòng thí nghiệm như là ribavirin; tuy nhiên, các thuốc này không có tác dụng trong thực tế, ngược lại chúng còn gây độc cho mèo. Ammonium chloride là thành phần thường xuyên trong thức ăn (dành cho thú y điều trị bệnh) nhằm mục đích làm thay đổi pH nước tiểu. Có hay không thức ăn chứa ammonium chloride có tác dụng ngăn chặn FIP thì chưa biết.
Coronavirus viêm ruột: Sử dụng chất điện giải và hạn chế calo khẩu phần ăn với sữa chua tự nhiên hoặc probiotic (chế phẩm sinh học) có thể sẽ thích hợp. Chưa có phương pháp điều trị kháng virus đặc hiệu nào được chứng minh để diều trị trường hợp này. Một vài mèo mang trùng bị tiêu chảy có đáp ứng với liều thấp prednisolone (0.5-1 mg/ngày).
Lâm sàng FIP: Nói chung, FIP không thể chữa khỏi, và kết quả chấn đoán dẫn đến quyết định cho (mèo) là cái chết êm ái. Những tiến bộ trong hiểu biết về FIP và các test chấn đoán sớm và chính xác hơn FIP, cho phép điều trị sớm sẽ có nhiều cơ hội ngăn chặn bệnh.
Các phương pháp điều trị khác: Thalidomide về mặt lý thuyết nó thích hợp hơn glucocorticoid trong điều trị FIP, không nên sử dụng ở mèo mang thai. Liều dụng 50-100mg/ ngày vào mỗi buổi tối.Chất ức chế TNF- α được sử dụng để kiểm soát hàm lượng TNF- α chất này tăng trong FIP và góp phần gây phản ứng viêm. Cho đến nay chưa được sử dụng trên mèo.Chất ức chế sinh tổng hợp Thromboxane với prednisolone, đã chữa khỏi 1 con mèo và thuyên giảm khoảng 8 tháng ở lần thứ 2 với FIP ướt. Chất ức chế MMP-9 (salvianolic acid B) có thể được sử dụng trong giai đoạn đầu FIP ướt nhưng có vẻ không có ích trong FIP khô. Mặc dù những hợp chất này chưa được sử dụng trên mèo FIP, liều đề nghị là 10mg/kg/ngày. Chất đối kháng thụ thể 5-Hydroxytryptamine, liệu pháp này vẫn chưa được sử dụng ở mèo FIP, liều đề nghị là 300 μ g/kg/ngày.
Vai trò của dinh dưỡng: Mặc dù chưa được kiểm chứng, việc cung cấp nhiều omega 3 cho mèo FIP có thể có lợi. Nó có thể ngăn chặn sự tiến triển FIP ở các mèo tiếp xúc.
Theo dõi điều trị và tiên lượng: Các mèo FIP ướt thường sống cao nhất là vài ngày đến vài tuần. Mèo FIP khô có thể sống vài tuần đến vài tháng, khi có dấu hiệu thần kinh xảy ra thì mèo sau đó chết rất nhanh.
Phòng bệnh
Vaccine chống lại FIP: Đã có 1 loại vaccine phòng chống FIP (Primucell, Pfizer Animal Health, New York). Hiệu quả của Primucell dựa trên phần trăm ngăn ngừa được đã được báo cáo là 50 – 75%. Trong 1 khảo sát khác cho thấy vaccine này không có hiệu quả.
Sự ngăn ngừa FIP cho mèo giống: Vệ sinh tốt và thiết kế chuồng trại là điều kiện cần thiết để giảm mức độ và sự lây lan FCoV.
Các biện pháp chăn nuôi: Các mèo không bị nhiễm nên được tách riêng với các mèo bị nhiễm và mèo mới nên được cách ly trước. Kiểm soát giao phốim cai sữa sớm và cách ly mèo con. Các con của mèo cái đang bày thải FCoV sẽ được bảo vệ khỏi nhiễm bởi MAD (kháng thể mẹ truyền) cho đến khi chúng được ít nhất 5-6 wks tuổi.
Sự ngăn chặn FIP ở trạm cứu hộ: Sự kết hợp của việc chủng chủng ngừa cho các mèo với Primucell trước khi trả về tự nhiên. Các mèo nên để tránh xa chó không chỉ giảm stress mà còn ngăn chặn tiếp xúc với CCoVs.









